Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 trên địa bản tỉnh Thái Nguyên (19/09/2019)

Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 (Nghị quyết số 02/NQ-CP),  UBND tỉnh Thái Nguyên đã quyết liệt, sát sao, chỉ đạo và yêu cầu các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, thị xã căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung triển khai cụ thể những nội dung Nghị quyết 02/NQ-CP. Quyết tâm thực hiện những giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; Xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thể hiện tính năng động, nỗ lực đột phá của các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vì vậy, trong 8 tháng đầu năm 2019, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những kết quả quan trọng:

1. Một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2019

- Thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tính chung 7 tháng năm 2019 đạt 8.505,5 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ và bằng 56,7% so với dự toán cả năm. Trong đó thu nội địa đạt 6.806,7 tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ và bằng 58,4% so với dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.660,7 tỷ đồng, giảm 1,7% so với cùng kỳ và bằng 49,6% so với dự toán cả năm 2019.

Tính lũy kế từ đầu năm đến ngày 16/8/2019, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt  8.795 tỷ đồng, bằng 59% dự toán; trong đó thu nội địa 6.979 tỷ đồng, bằng 60% dự toán và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.777 tỷ đồng, bằng 53% dự toán; thu từ huy động đóng góp là 39 tỷ đồng.

- Chi ngân sách địa phương: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 7 tháng năm 2019 đạt 6.580 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ và bằng 44,2% dự toán cả năm; trong đó, chi đầu tư phát triển 1.946 tỷ đồng (chiếm 29,6% trong tổng chi cân đối ngân sách địa phương), tăng 29,4% so với cùng kỳ và bằng 60,5% dự toán cả năm; chi thường xuyên đạt 4.115 tỷ đồng (chiếm 70,4%), tăng 5% so với cùng kỳ và bằng 49,6% dự toán cả năm.

Tính lũy kế từ đầu năm đến ngày 16/8/2019, tổng chi ngân sách địa phương đạt 6.749 tỷ đồng, bằng 45,4% dự toán cả năm; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 2.193 tỷ đồng, bằng 51,9% dự toán; chi thường xuyên 4.303 tỷ đồng, bằng 50,5% dự toán, trong đó chi giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 49,6% dự toán; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 30 tỷ đồng, bằng 75% dự toán.

- Lĩnh vực nông nghiệp: Các hoạt động sản xuất vụ mùa năm 2019, gieo trồng cây hàng năm, cây chè, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, khai thác lâm sản  được quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt. Các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp được duy trì thường xuyên. Tính đến ngày 25/8/2019, bệnh Dịch tả lợn Châu phi đã phát hiện tại 174/180 xã, phường, thị trấn trên tất cả các đơn vị cấp huyện của tỉnh. Tổng số lợn buộc tiêu hủy là 146,9 nghìn con (chiếm 20,9% so với tổng đàn lợn của năm 2018) với trọng lượng 8,56 nghìn tấn của 15.793 hộ thuộc 2.194 thôn, xóm. Trong đó huyện Định Hóa tỷ lệ tiêu hủy so tổng đàn lớn nhất (30,97%), tiếp đến là huyện Đại Từ 29,94% tổng đàn; Võ Nhai và Đồng Hỷ 27-28% tổng đàn; thành phố Thái Nguyên 15,4% tổng đàn… Trong tổng số lợn phải tiêu hủy, số lợn nái là 19,4 nghìn con, chiếm 15,7% tổng đàn lợn nái; lợn đực giống đã tiêu hủy là 446 con, chiếm 47,3% tổng đàn lợn đực giống.

Tính đến ngày 25/8/2019, có 16 xã, phường của 05 huyện đã qua 30 ngày không có lợn mắc bệnh, chết, tiêu hủy: Úc Kỳ (04/5), Dương Thành (30/6), Hà Châu (06/7), Thanh Ninh (10/7), Nhã Lộng (19/7) huyện Phú Bình; phường Đồng Quang (24/5), Gia Sàng (07/7), Trung Thành (03/7), Phan Đình Phùng (17/7) TP Thái Nguyên; thị trấn Đình Cả (ngày 06/6), Sảng Mộc (06/7) huyện Võ Nhai; phường Bãi Bông (26/6), xã Thuận Thành (18/7) TX. Phổ Yên; thị trấn Quân Chu (30/6), xã Hoàng Nông (05/7), xã Hà Thượng (12/7) huyện Đại Từ (trong đó 05 xã của huyện Phú Bình đã công bố hết dịch: Úc Kỳ, Hà Châu, DươngThành, Thanh Ninh, Nhã Lộng).

- Lĩnh vực sản xuất công nghiệp: sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục tăng do chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tháng 7/2019 tăng 56,2% so với cùng kỳ, trong đó tiêu thụ tăng cao ở các sản phẩm như: thép, xi măng, cấu kiện kim loại và sản phẩm điện tử viễn thông tăng cao. Chỉ số tồn kho tháng 7/2019 giảm 2,3% so với cùng kỳ là yếu tố tích cực thúc đẩy sản xuất công nghiệp trong tháng 8/2019.

So với cùng kỳ chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2019 tăng 12,9%, trong đó tăng cao nhất là nhóm ngành sản xuất và phân phối điện với mức tăng 15,9%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1%; công nghiệp khai khoáng tăng 1,2%. Riêng ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải giảm 10,2% so cùng kỳ.

- Lĩnh vực thương mại, giá cả, dịch vụ: 8 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng là 10,4%); trong đó, khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 1.278 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ; khu vực kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 22,8 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 94,2% thị phần bán lẻ), tăng 12,7% cùng kỳ; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 131,2 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ.

Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 18,08 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ, bằng 65,6% kế hoạch cả năm. Trong đó, xuất khẩu do địa phương quản lý 362,6 triệu USD, tăng 37,3% cùng kỳ, bằng 60,4% kế hoạch cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 17,71 tỷ USD, tăng 10,1% cùng kỳ và bằng 65,7% kế hoạch.

Tính chung 8 tháng đầu năm 2019, tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn ước đạt 10,56 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 172,8 triệu USD, tăng 0,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10,38 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 98,4% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 16% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá tiêu dùng: Do Nhà nước điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế trong tháng 8/2019, bên cạnh đó giá thịt lợn vẫn tiếp tục tăng nên tính chung chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tháng 8/2019 tăng 0,86% so với tháng 7/2019; tăng 1,14% so với cùng kỳ; tăng 2,08% so với tháng 12/2018. Bình quân 8 tháng 2019, tăng 2,04% so với cùng kỳ (nhưng thấp hơn mức tăng 2,71% của bình quân chung 8 tháng 2018).

Về lĩnh vực xã hội: Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức triển khai nhiều hoạt động góp phần đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các gia đình chính sách, người nghèo, người có công. Triển khai tốt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết của Chính phủ. Các chính sách thường xuyên hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý… đã được các địa phương xây dựng kế hoạch và tích cực tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm. Các địa phương, đơn vị tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tự lực cho người nghèo, cộng đồng và xã hội về giảm nghèo.

Ngành chức năng đã phối hợp với UBND huyện Phú Bình, UBND huyện Định Hóa và Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tổ chức tuyển dụng lao động thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo thuộc 02 huyện vào làm việc tại Công ty và các đơn vị phụ trợ.

2. Công tác cải cách hành chính

UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 142/KH-UBND ngày 28/12/2018 về xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) tỉnh Thái Nguyên năm 2019; tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017 -2020” đảm bảo đúng tiến độ; ban hành 07 văn bản QPPL; giao Sở Tư pháp thực hiện thẩm định 18 dự thảo văn bản QPPL, đóng góp ý kiến xây dựng 22 văn bản của tỉnh và Trung ương.

UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 4048/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về việc ban hành Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2019; Quyết định số 391/QĐ-UBND ngày 12/02/2019 về việc ban hành kế hoạch kiểm tra công tác kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính năm 2019 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 95/QĐ-UBND ngày 14/01/2019 về việc phê duyệt kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính năm 2019; văn bản số 682/UBND-KSTTHC ngày 06/3/2019 về việc xây dựng quy trình nội bộ, quy trình điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính...

Ban hành 19 quyết định công bố danh mục TTHC thuộc chức năng quản lý của Sở Giao thông vận tải; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Xây dựng; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Y tế; Sở Ngoại vụ; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Tài chính; Sở Công Thương (cấp tỉnh và cấp huyện) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trong đó có 683 TTHC (ban hành mới: 335 thủ tục; bãi bỏ: 348 thủ tục). Các TTHC sau khi công bố đều được cập nhật, tích hợp, công khai lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và công khai trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh.

Ban hành 17 quyết định công bố danh mục TTHC thực hiện tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả và không thực hiện tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các Sở, Ban, ngành và UBND cấp huyện, UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Ban hành 09 quyết định phê duyệt quy trình nội bộ trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp; Ban Quản lý các Khu công nghiệp Thái Nguyên; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Thông tin và Truyền thông; lĩnh vực văn bằng, chứng chỉ của Sở Giáo dục và Đào tạo; lĩnh vực giám định y khoa, lĩnh vực an toàn thực phẩm của Sở Y tế; lĩnh vực đường bộ của Sở Giao thông vận tải; lĩnh vực tin học thống kê, tài chính doanh nghiệp của Sở Tài chính; lĩnh vực đo đạc và bản đồ của Sở Tài nguyên và Môi trường với tổng 178 quy trình nội bộ.

Đôn đốc các cơ quan, đơn vị địa phương thực hiện công khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và niêm yết công khai trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi tiếp nhận giải quyết TTHC.

Các sở, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, áp dụng các TTHC được công bố thực hiện theo cơ chế một cửa để tiếp nhận và giải quyết cho tổ chức và công dân đảm bảo yêu cầu, đúng quy định. Tập trung triển khai Nghị định 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC;

Tiếp tục triển khai nâng cấp một cửa điện tử cấp huyện, nhân rộng mô hình một cửa điện tử cấp xã trong toàn tỉnh; đầu tư trang thiết bị hệ thống công nghệ thông tin áp dụng một cửa điện tử tại các sở, ban, ngành (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Sở Xây dựng...), cơ chế một cửa liên thông, tiếp tục được thực hiện liên thông trong lĩnh vực đất đai, chính sách xã hội (cấp xã với cấp huyện với cấp tỉnh), đầu tư, đăng ký kinh doanh, công an, xây dựng..., tăng cường giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa liên thông các TTHC về đăng ký khai sinh, thường trú, cấp thẻ BHYT, đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất/hỗ trợ chi phí mai táng/hưởng mai táng phí…; liên thông đối với Hồ sơ xác nhận lý lịch tư pháp, lĩnh vực đầu tư, chính sách xã hội, Đăng ký kinh doanh, xây dựng, thuế, cấp con dấu… Tổng số hồ sơ tiếp nhận và giải quyết 8 tháng đầu năm 2019 (tính đến 30/8/2019) đã tiếp nhận là 438.118 hồ sơ, trong đó số hồ sơ đã giải quyết 421.024 hồ sơ.

Đang triển khai xây dựng Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh tại số 17, đường Đội Cấn (TP. Thái Nguyên) với tổng diện tích 6.030m2, mức kinh phí đầu tư khoảng 68,3 tỷ đồng. Dự kiến hoàn thành năm 2020.

3. Về tài nguyên và môi trường

Công tác quản lý về tài nguyên và môi trường tiếp tục được triển khai thực hiện theo quy định. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực hiện các nhiệm vụ giải pháp trong Đề án Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên. Tiếp tục duy trì và thực hiện tốt công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường. Trong quý III/2019, đã tiếp nhận 18.846 hồ sơ theo cơ chế một cửa; đã giải quyết 14.852 hồ sơ; tiếp nhận 42 hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông; đã giải quyết 41 hồ sơ; tiếp tục tổ chức thực hiện việc ủy quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Văn phòng Đăng ký đất đai tại Quyết định số 44/QĐ-STNMT ngày 23/01/2018.

4. Hoạt động tài chính, ngân hàng

Tiếp tục giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất huy động và cho vay của các chi nhánh tổ chức tín dụng, kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm. Tính đến thời điểm đầu tháng 6/2019, trên địa bàn có 29 chi nhánh tổ chức tín dụng, bao gồm 25 chi nhánh ngân hàng cấp I; 03 quỹ tín dụng nhân dân, 01 tổ chức tài chính vi mô (với 10 chi nhánh ngân hàng cấp II; 107 phòng giao dịch). Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên địa bàn đã thực hiện nhiều giải pháp để mở rộng tín dụng, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp và người dân.

- Tình hình thực hiện lãi suất: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam tương đối ổn định và tăng nhẹ so với năm 2018.

Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với lãi suất huy động tiền gửi kỳ hạn dưới 1 tháng; từ 4,5-5,5%/năm đối với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; từ 5,5-8,8%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Lãi suất cho vay bằng Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên là 6,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn, từ 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm Ngân hàng Phát triển) đến 31/7/2019 đạt 59.878 tỷ đồng, tăng 10,91% so với 31/12/2018. Ước đến 31/8/2019, nguồn vốn huy động đạt 60.300 tỷ đồng, tăng 11,69% so với 31/12/2018.

Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng (chưa bao gồm cho vay ưu đãi của Ngân hàng Phát triển) 31/7/2019 đạt 52.798 tỷ đồng, tăng 4,62% so với 31/12/2018. Ước đến 31/8/2019, dư nợ cho vay đạt 53.200 tỷ đồng, tăng 5,42% so với 31/12/2018.

Nợ xấu đến 31/7/2019, là 530 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,02%/tổng dư nợ. Ước đến 31/8/2019, nợ xấu là 530 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 1%/tổng dư nợ.

Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn dư nợ cho vay đạt 15.500 tỷ đồng, tăng 9,27% so với cuối năm 2018 và chiếm tỷ trọng 29%/tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng, số khách hàng còn dư nợ là 175.277 khách hàng, nợ quá hạn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là 136 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,88%/tổng dư nợ cho vay.

Dư nợ cho vay đối với ngành chăn nuôi lợn đến hết tháng 7/2019 là 2.156 tỷ đồng, trong đó dư nợ bị thiệt hại là 79 tỷ đồng, các ngân hàng trên địa bàn đã thực hiện giảm lãi vay và cơ cấu lại thời hạn trả nợ với dư nợ 13,23 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi lợn khi xảy ra dịch tả lợn Châu Phi.

5. Hoạt động khoa học công nghệ, thông tin truyền thông

Các ngành chức năng thực hiện tốt công tác quản lý các đề tài, dự án
khoa học và công nghệ đang triển khai thông qua việc: Tổ chức Hội đồng KH&CN cấp tỉnh xét duyệt thuyết minh cho 14 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2019; Tổ chức Hội đồng nghiệm thu 10 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và thực hiện duy trì việc quản lý, kiểm tra, theo dõi đối với 35 nhiệm vụ KH&CN chuyển tiếp sang năm 2019. Đối với nhiệm vụ quỹ gen, tiếp tục quản lý 7 nhiệm vụ chuyển tiếp sang năm 2019, nghiệm thu 2 nhiệm vụ và trình UBND tỉnh phê duyệt 4 nhiệm vụ; Thẩm định công nghệ và cho ý kiến vào 07 dự án đầu tư và cấp giấy chứng nhận chuyển giao công nghệ cho 02 đơn vị; Phối hợp với Đại học Thái Nguyên tổ chức diễn đàn “Thắp lửa và kết nối khởi nghiệp” và “Cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp” Đại học Thái Nguyên lần thứ 3 năm 2019; Hoạt động thanh tra được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra: đã tổ chức 2 cuộc thanh tra, tham gia 2 đoàn kiểm tra và một đoàn thanh tra do Thanh tra Cục An toàn bức xạ hạt nhân chủ trì; Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giữa UBND tỉnh và Đại học Thái Nguyên; Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về quản lý công nghệ và thị trường KH&CN, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ hạt nhân, sở hữu trí tuệ, thông tin và thống kê KH&CN; Thực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh vực KH&CN; Hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu đối với các nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao. Trong 8 tháng năm 2019, đã tiếp nhận và giải quyết đúng hạn 98 hồ sơ theo cơ chế một cửa của Sở. Đang thực hiện xây dựng Quy định thẩm định công nghệ dự án đầu tư trên địa bản tỉnh Thái Nguyên thay thế Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND.

Công tác quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông tiếp tục được tăng cường, đảm bảo đúng định hướng; các cơ quan chức năng thường xuyên theo dõi thông tin trên báo chí về Thái Nguyên, kịp thời tham mưu cho lãnh đạo tỉnh chỉ đạo các đơn vị liên quan kiểm tra, giải quyết và trả lời các cơ quan báo chí theo quy định. Các cơ quan thông tin truyền thông của tỉnh đã tổ chức đưa tin, bài, ảnh kịp thời về hoạt động của các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh và các Sở, ban, ngành, địa phương. Ngành chuyên môn tiếp tục tổ chức đánh giá, tổng hợp danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 tại các cơ quan, đơn vị của tỉnh thực hiện trong năm 2018, 2019; Tổ chức thu thập số liệu về thực hiện tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích tại các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh...

6. Về công tác xúc tiến, thu hút đầu tư

Trong quý III năm 2019, Tỉnh tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các Sở, ban, ngành, địa phương, cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp để nâng cao điểm số của các chỉ số thành phần của Chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh (năm 2018 đạt vị trí 18/63); đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng cho các dự án trọng điểm, các khu dân cư đô thị để sớm đưa dự án vào hoạt động sản xuất kinh doanh và có diện tích đất sạch để thu hút đầu tư; tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư. Lũy kế đến tháng 8/2019, toàn tỉnh có 47 dự án đầu tư được quyết định chủ trương đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là: 5.562 tỷ đồng; điều chỉnh, thay đổi giấy chứng nhận đầu tư 20 dự án;

- Thu hút đầu tư FDI: Quý III năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã cấp mới 09 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký là 195,718 triệu USD. Điều chỉnh tăng vốn cho 15 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm là 96,718 triệu USD.

Lũy kế đến nay (25/8/2019) trên địa bàn tỉnh có 137 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký: 7.868,217 triệu USD.

7. Đăng ký kinh doanh, cấp Giấy chứng nhận đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư các dự án

- Về đăng ký kinh doanh: Đến Quý III, cấp thành lập mới cho 522 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký 5.083 tỷ đồng; số doanh nghiệp giải thể 52 doanh nghiệp. Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay là 7.025 doanh nghiệp..

- Về cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Quyết định chủ trương đầu tư: Tháng 8/2019 có 02 dự án được quyết định chủ trương đầu tư với số vốn đăng ký đầu tư là: 2.637 tỷ đồng; có 02 dự án được điều chỉnh thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và 07 dự án bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Để xây dựng và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019, định hướng đến năm 2021. Trong thời gian tới, cần triển khai các nhiệm vụ trọng tâm cụ thể như sau:

1. Tiếp tục triển khai và tổ chức đôn đốc các Sở, ban, ngành, địa phương thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh theo Nghị quyết của Chính phủ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy.    

2.  Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, thị xã căn cứ chức năng, bám sát các nhiệm vụ được giao tiếp tục xây dựng kế hoạch và triển khai cụ thể những nội dung đã được UBND tỉnh giao nhiệm vụ tại Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 28/3/2019 về thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ, Kế hoạch số 74/KH-UBND ngày 24/5/2019; đồng thời, quán triệt đến các đơn vị trực thuộc và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ tăng cường trách nhiệm, đề xuất giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

3. Các Sở, ngành bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương xây dựng kế hoạch thực hiện từng nhóm chỉ số, chỉ số thành phần của chỉ số PCI theo ngành, lĩnh vực được phân công, phục trách./.

Video
Loading the video...
Quảng Cáo
   
Liên kết web

Bản quyền @2016 bởi SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TỈNH THÁI NGUYÊN

Địa chỉ: Số 18 - Đường Nha Trang - Phường Trưng Vương - TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Điện thoại: 0208.3.855688 - Fax: 0208.3.855688 - Email: sokhdt@thainguyen.gov.vn - Website: sokhdt.thainguyen.gov.vn